Banner 01

LỊCH SỬ BROQUET

Lịch sử chất xúc tác xử lý nhiên liệu Broquet bắt đầu từ thế chiến thứ 2. Vào năm 1941, Nga được cung cấp 400 máy bay chiến đấu Hurricane để bổ sung vào lực lượng không quân Liên Xô sụp đổ trước đó. Việc vận hành và bảo trì, bảo dưỡng máy bay do nhân viên của Nga thực hiện nhưng được huấn luyện bởi lực lượng không quân Hoàng Gia Anh.

image001_1

151 chiếc máy bay cùng với phi hành đoàn được Nga hộ tống tới Murmansk tập hợp ở bên trái Iceland.24 chiếc máy bay bổ sung thêm tới sân bay Vaenga tại Murmansk để bảo vệ đoàn hộ tống.Những chiếc còn lại thì chở các nhân viên bao gồm cả chuyên cơ “Llanstephan Castle” chở Henry Broquet.

image002_1

Trong vòng 4 ngày sau khi đến sân bay Vaenga, họ phát hiện ra rằng nhiên liệu có sẵn của Nga có chất lượng thấp hơn so với yêu cầu có thể chấp nhận được đối với động cơ Merlin XX của máy bay Hurricane Series II. Trong chuyến bay đầu tiên của họ, hai cặp Hurricane Squadron 134 đột nhiên mất công suất và động cơ sau đó ngưng hoạt động. Bằng cách sử dụng bơm tay, các phi công đã có thể khởi động lại động cơ và vượt qua nguy hiểm. Henry Broquet được điều đến làm việc với đội ngũ các nhà khoa học Nga để điều tra và giải quyết vấn đề trên. Trong khi đó, Hurricane đã buộc phải hoạt động ở độ cao dưới 16.000 feet, hạn chế tấn công mặt đất và hỗ trợ máy bay ném bom.

Tai hại đầu tiên này là do triết lý khác nhau về ngành công nghiệp sản xuất dầu mỏ giữa phương Tây và Nga. Phần lớn sản lượng dầu mỏ của Nga chỉ đứng sau Mỹ trong những năm 1920 và 1930, phần lớn chúng được sử dụng để sưởi ấm, chiếu sáng và các ngành công nghiệp nặng. Các công đoạn tinh chế sản xuất chỉ một lượng nhỏ xăng và chất lượng thì không ổn định. Ngược lại, công nghệ phương Tây sử dụng chất xúc tác và nhiệt hóa dầu để sản xuất xăng chất lượng cao và vào năm 1923 kết hợp chất xúc tác Chì Tetraethyl như một sự tăng cường hiệu suất. Năm 1941, xăng máy bay của Nga có chỉ số Octan cao chứa những hợp chất gây ra đóng “sáp” ở nhiệt độ thấp, và việc bổ sung Chì Tetraethyl không phải là một giải pháp tốt.

Tất cả máy bay chiến đấu của Nga bị giới hạn ở độ cao 20.000 feet và chỉ được hoạt động ở độ cao 15.000 feet trở lại. Giải quyết vấn đề chất lượng nhiên liệu đã trở thành một ưu tiên hàng đầu.

Bằng việc sử dụng các Chất Xúc tác kim loại để ổn định và cải thiện các đặc tính của nhiên liệu, đặc biệt cải thiện quá trình oxy hóa và quá trình đốt cháy nhiên liệu hydrocarbon. Trong lúc nhiên liệu xăng pha chì giá rẽ được sử dụng rộng rãi, Thiếc (thành phần chính của Chất xúc tác xử lý nhiên liệu Broquet) được đề cao cho việc này.

Thiếc đã được biết đến như là một chất có sự ổn định vượt trội và đặc tính xúc tác hơn hẳn so với các hợp kim của Chì và các hợp chất khác, giảm các phản ứng thoái hóa nhiên liệu giữa các hydrocacbon và các tạp chất có trong nhiên liệu có ảnh hưởng xấu đến hiệu suất cháy. Những phản ứng thoái hóa nhiên liệu này cũng góp phần vào việc tạo ra chất “Sáp” bên trong động cơ. Một số hợp kim Thiếc phản ứng xúc tác khác nhau trong nhiên liệu hydrocacbon hỗn hợp, mà nó có lợi cho hiệu suất đốt cũng như sự ổn định chất lượng nhiên liệu đã được ghi nhận và đạt được rất nhiều bằng sáng chế trong những năm 1930.

Máy bay đạt được mục đích và bảo vệ thành công các cảng ở Murmansk với việc sử dụng Chất Xúc tác cho phép chúng bay ở độ cao tối ưu trong khi vẫn sử dụng nhiên liệu máy bay kém chất lượng.

Sau chiến tranh, Henry Broquet làm việc tại Anh cho một công ty lớn hoạt động trong lĩnh vực đánh bắt hải sản. Henry lắp Chất xúc tác xử lý nhiên liệu Broquet cho các động cơ tàu đánh bắt cá và giúp tiết kiệm đáng kể chi phí vận hành.

Cuối cùng Henry đã lập công ty sản xuất Sản phẩm Broquet và thành công dựa vào việc lắp đặt Broquet cho các tàu biển lớn vận chuyển hàng hóa, các thiết bị khai thác nặng và những đội tàu đánh cá. Kết quả của sự thành công này, công ty của Ông đã bị mua lại và được tiếp quản bởi một công ty khác, nhưng Henry Broquet đã không tiết lộ hoàn toàn công thức hay quy trình sản xuất sản phẩm Broquet. Vì vậy, công ty và sản phẩm của nó đã không thành công. Sau 18 năm công ty trả lại tất cả quyền lợi hợp pháp cho ông. Năm 1986, Henry trở về Anh và bắt đầu sản xuất, tiếp thị Chất Xúc tác cuối cùng dẫn đến sự hình thành của công ty Broquet International Ltd.

Năm 1988, Henry Broquet nhận Huy chương Hòa bình của Liên Bang Nga cho sự cống hiến của mình với việc phát triển Chất Xúc tác trong chiến tranh. Đáng buồn thay, Henry đã qua đời vào năm 1989, và hiện nay con của Ông là Henry Arthur Broquet là một nhà cố vấn cho Broquet International Ltd.Cảnh giác với những tuyên bố sai lệch từ các nhà sản xuất khác của Chất Xúc tác, bởi vì chỉ có Broquet là nhà phát minh ra Chất Xúc tác và đây thương hiệu độc quyền.